Mỹ công phá các điểm yếu pháp lý của Trung Quốc

THỨ SÁU, 14/01/2022 10:35:09

Báo cáo số 150 của Cục Đại dương - Môi trường - Các vấn đề khoa học thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định rõ yêu sách chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông là phi pháp.


Chính quyền ông Joe Biden vẫn duy trì thế trận “nội công ngoại kích” trước chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, vừa dùng sức mạnh quân sự vừa dùng lý lẽ trên mặt trận pháp lý. Trong ảnh: Nhóm tàu sân bay USS Carl Vinson - Ảnh: Hải quân Mỹ

Việc Cục Đại dương - Môi trường - Các vấn đề khoa học thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo số 150 về các giới hạn trên biển cho thấy Washington tiếp tục chiến thuật "công phá các điểm yếu" trên mặt trận pháp lý trong chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông.

Điều này khác với các hoạt động mang tính đối trọng về quân sự như tăng cường tuần tra, tập trận hàng hải hoặc đáp trả về kinh tế như trừng phạt các công ty Trung Quốc có liên quan hoạt động phi pháp ở Biển Đông. Những hành động này vốn thuộc về chiến lược "làm yếu các điểm mạnh" từ bên ngoài mà Mỹ đang dùng để ứng phó với Trung Quốc trên Biển Đông.

Sự duy trì thế trận "nội công ngoại kích" theo cách tiếp cận này không chỉ cho thấy tính nhất quán trong chiến lược tăng cường ảnh hưởng ở Biển Đông của nhiều đời tổng thống Mỹ, mà còn tạo nền tảng cho những chuyển biến tích cực trên mặt trận pháp lý Biển Đông ngay từ đầu năm 2022.

Cách tiếp cận nhất quán

Vì đã chọn không tham gia Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) 1982 nên Chính phủ Mỹ có xu hướng tránh né việc công nhận bất cứ phán quyết của tòa án quốc tế nào liên quan đến Luật Biển.

Tuy nhiên, xu hướng này đã thay đổi đáng kể từ sau khi Chính phủ Mỹ gửi một ghi chú ngoại giao dưới dạng công hàm đến Trung Quốc vào tháng 12.2016 để phản đối lập trường của Bắc Kinh ngay sau khi nước này đưa ra 3 văn bản tuyên bố bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS ngày 12.7.2016.

Trong các sự kiện thời Tổng thống Donald Trump như gửi công thư cho Tổng Thư ký Liên hợp quốc vào tháng 6.2020 để phản đối Công hàm CML/14/2019 của Trung Quốc, đưa ra tuyên bố lập trường Biển Đông chính thức của Mỹ ở cấp độ ngoại trưởng (tháng 7.2020)..., phía Mỹ đã nhiều lần nhắc về phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông năm 2016.

Động thái công bố báo cáo số 150 về yêu sách Biển Đông của Trung Quốc ngày 12.1 với một loạt dẫn chiếu đến UNCLOS 1982, cũng như phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông 2016 cho thấy sự tiếp nối nhất quán về lập trường pháp lý của Chính phủ Mỹ về Biển Đông ngay ở thời Tổng thống Biden.

Nội dung của báo cáo số 150 cũng cho thấy sự cập nhật chi tiết hơn bản đồ về các vùng biển và thực thể quan trọng trên Biển Đông. Đây là kết quả của chuỗi hoạt động khảo sát hàng không (bắt đầu từ 2015) và khảo sát hàng hải, gần nhất là chuyến khảo sát ít được nhắc đến của tàu USNS Mary Sears vào tháng 9.2021 của quân đội Mỹ.

Ngoài ra, nó cũng thể hiện sự chuyên nghiệp hơn trong cách diễn giải và dẫn chiếu luật khi không chỉ nhắc đến UNCLOS, phán quyết Tòa Trọng tài Biển Đông 2016 mà còn có cả các luật tập quán và phụ lục về những ứng xử trên thực tiễn thỏa thuận giữa các quốc gia, trích dẫn cả các diễn giải luật của Trung Quốc để tăng tính phản biện.

Bác bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc

Khác với báo cáo số 143 công bố năm 2014 của Bộ Ngoại giao Mỹ vốn chỉ dừng ở việc yêu cầu Trung Quốc bổ sung thêm tài liệu về yêu sách của họ ở Biển Đông, báo cáo số 150 khẳng định rõ yêu sách chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông là phi pháp.

Báo cáo này đã bổ sung thêm cả sự phi pháp trong các yêu sách của Trung Quốc với quần đảo Hoàng Sa, giúp bổ sung thêm một bộ phận quan trọng bên cạnh phán quyết Tòa Trọng tài năm 2016 bác bỏ tính hợp pháp trong sự hiện diện mà Trung Quốc luôn diễn giải ở Trường Sa.

Như vậy từ thời điểm này, toàn bộ các hoạt động của Trung Quốc như khảo sát khoa học biển, các sáng kiến hợp tác vận tải biển, phát triển đối tác kinh tế biển... đều vô hiệu trước luật pháp quốc tế.

Thêm vào đó, với chiến thuật công kích "điểm yếu pháp lý" của Trung Quốc trên Biển Đông, phía Mỹ lúc này đã mở đường cho các hành động pháp lý khác của các nước đồng minh hoặc nhóm các thành viên ASEAN trực tiếp có liên quan đến Biển Đông. Nhóm này gần đây đã có sự gắn kết mạnh mẽ với xu hướng tạo thành khối A5 gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines và Brunei.

Trên cơ sở báo cáo số 150, Trung Quốc dường như đã mất hoàn toàn cơ sở pháp lý để có thể duy trì hiện diện trong đàm phán Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông (COC). Khi không còn là bên có hiện diện hợp pháp trên Biển Đông, thì các lập trường đơn phương của Trung Quốc vốn quá xa rời với phần còn lại của ASEAN không thể tiếp tục cản trở tiến trình đàm phán định hình trật tự pháp lý khu vực.

ASEAN khi đó với sự chủ đạo của khối A5 hoàn toàn có thể bàn đến viễn cảnh tách ra thực hiện một cuộc đàm phán về COC riêng của khối, trước khi mở rộng sự tham gia đến các nước bên ngoài có quan tâm. Điều này theo đúng như cách ASEAN đã bắt đầu đàm phán với nhau về Tuyên bố ứng xử về các bên ở Biển Đông (DOC) từ năm 1992 và đến 10 năm sau Trung Quốc mới gia nhập.

Theo Tuổi trẻ